| Getting your Trinity Audio player ready... |
Lạm phát và lãi suất là hai thuật ngữ không xa lạ trong đầu tư chứng khoán. Tuy vậy, quý vị có biết rằng hiểu mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất là rất quan trọng. Nếu hiểu rõ được mối quan hệ này, các nhà đầu tư sẽ dễ dàng đưa ra quyết định trong giao dịch.
Lạm phát là gì?
Lạm phát là hiện tượng hàng hóa và dịch vụ liên tục tăng giá trong một khoảng thời gian nhất định, làm giảm giá trị của loại tiền tệ tương ứng. Khi mức giá chung tăng lên, cùng một số tiền sẽ không mua được nhiều hàng hóa và dịch vụ như trước. Đây là một vấn đề kinh tế phổ biến trong quá trình phát triển của mọi quốc gia. Trên thị trường quốc tế, lạm phát cho thấy sự sụt giảm giá trị của tiền tệ của một quốc gia so với một quốc gia khác.
Chẳng hạn, thông thường quý vị mua được một gói bánh với giá 1 đồng. Tuy nhiên, nếu lạm phát làm mức giá chung tăng cao, gói bánh sẽ tăng lên 2 đồng. Nếu tất cả hàng hóa cùng tăng giá một cách đồng loạt, đồng tiền sẽ bắt đầu mất đi giá trị ban đầu.
Các loại lạm phát nền kinh tế
Có 3 loại lạm phát chính được phân loại dựa trên mức độ tăng của đơn vị tiền tệ:
· Lạm phát vừa phải: Khi lạm phát dao động ở mức 1 con số, ví dụ như 7%.
· Lạm phát phi mã: Khi lạm phát tăng ở mức 2-3 con số, ví dụ như 10%.
· Siêu lạm phát: Đây là tình trạng mà tốc độ tăng giá vượt xa lạm phát phi mã, có thể lên đến 1000%.
Khi lạm phát tăng cao, lãi suất cũng sẽ tăng lên do sự tương quan giữa hai yếu tố này. Từ đó, bất kể quý vị thu nhập ra sao hay vị trí xã hội của quý vị, việc phân chia chi tiêu và tạo thói quen tiết kiệm là rất quan trọng.
Vậy lãi suất là gì?
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm được tính dựa trên số tiền gốc mà quý vị phải trả trong một khoảng thời gian đã cam kết trước. Thông thường, lãi suất được tính theo năm. Đây là một trong những công cụ tài chính quan trọng trong chính sách tiền tệ hiện tại. Ngân hàng trung ương của các quốc gia thường sử dụng lãi suất để điều chỉnh các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như thất nghiệp, đầu tư và lạm phát.
Ví dụ, nếu quý vị vay ngân hàng 10 triệu đồng với lãi suất 2% mỗi năm, quý vị sẽ phải trả thêm cho ngân hàng 10.000.000 x 2% = 200.000 đồng mỗi năm.
Trong trường hợp quý vị gửi tiền vào ngân hàng, quý vị sẽ trở thành người cho vay và ngân hàng trở thành người đi vay. Vì vậy, quý vị sẽ nhận được số tiền lãi tương ứng với số tiền gốc quý vị đã gửi trước đó. Đương nhiên, mức lãi suất thường không cố định và có thể biến đổi tùy thuộc vào biến động thị trường hoặc từng ngân hàng.
Quý vị có thể gửi tiền vào ngân hàng với kỳ hạn cụ thể hoặc không có kỳ hạn. Một cách tốt hơn là sử dụng ứng dụng tài chính thông minh để gửi tiền, đảm bảo linh hoạt sử dụng bất kỳ lúc nào và vẫn nhận được lãi suất như kỳ vọng.
Nhiều nhà đầu tư nghiệp dư có thể chưa biết rằng lãi suất được chia thành hai loại: lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực.
Lãi suất danh nghĩa là tỷ lệ lãi suất công bố trên thị trường, không tính đến tác động của lạm phát. Trong khi đó, lãi suất thực là chỉ số đã điều chỉnh để đồng bộ với mức lạm phát.
Ví dụ, giả sử quý vị gửi tiền vào một ngân hàng với mức lãi suất quy định là 20%. Đây là lãi suất danh nghĩa. Thực tế là do giá trị đồng tiền giảm theo thời gian, quý vị sẽ không nhận được số tiền tương ứng với lãi suất danh nghĩa.
Vì tác động của lạm phát, tỷ lệ lãi suất thực tế mà quý vị có thể nhận được chỉ khoảng 16%, 14% hay thậm chỉ chỉ 10%. Đây là lý do quan trọng mà quý vị nên hiểu về mối liên hệ giữa lãi suất và lạm phát.
Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất trong thị trường tài chính
Tại sao ngân hàng tăng lãi suất khi lạm phát? Khi ngân hàng nhà nước nới lỏng tiền tệ, tức là cắt giảm lãi suất cơ bản thì lãi suất trên các khoản vay giảm theo.
Điều này sẽ thu hút người dân quan tâm hơn đến việc vay mượn tiền nhằm đầu tư. Nhờ đó, lượng tiền lưu thông trên thị trường và mức tiêu dùng cũng tăng lên.
Tuy nhiên, mức cung tiền cao kết hợp với giá rẻ sẽ làm giá trị đồng tiền của quốc gia giảm so với ngoại tệ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ lệ lạm phát có thể sẽ tăng theo. Tóm lại, khi giảm lãi suất, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng.
Ngược lại, khi ngân hàng nhà nước thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại sẽ phản ứng bằng việc tăng lãi suất cho vay. Điều này dẫn đến giảm nhu cầu về tiền.
Thay vì vay hoặc sử dụng tiền, người dân thường có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng để được hưởng lãi suất cao.
Nhu cầu tiêu dùng giảm, từ đó giảm nguy cơ tăng giá hàng hóa. Lượng tiền lưu thông trên thị trường cũng giảm, có tác động tích cực đến tỷ giá của quốc gia đó.
Do đó, tỉ lệ lạm phát sẽ giảm. Điều này chính là lý do tại sao tăng lãi suất có thể giảm lạm phát.
Theo quy luật thị trường, ta có thể nhận thấy:
· Chỉ số lạm phát phải nhỏ hơn lãi suất tiền gửi.
· Lãi suất tiền gửi phải nhỏ hơn lãi suất cho vay.
Vì vậy, có thể thấy rằng hai chỉ số tài chính này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và cũng là nguyên nhân và hệ quả của nhau.
Lạm phát và lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với nhau
Lý thuyết Fisher cho rằng, lạm phát và lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với nhau.
Trên giả thuyết cho thấy, mức lãi suất danh nghĩa sẽ bằng tổng kỳ vọng lạm phát và lãi suất thực.
Để đảm bảo mức lãi suất thực, khi lạm phát tăng, lãi suất danh nghĩa cũng sẽ tăng theo. Điều này sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu tư và chỉ tiêu.
Vậy tại sao lạm phát tăng thì lãi suất tăng?
Khi lạm phát gia tăng, đồng tiền mất giá. Để kiểm soát lạm phát, Nhà nước thường thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ. Ngân hàng Trung ương cũng tăng lãi suất để giảm cung tiền. Điều này khiến doanh nghiệp hạn chế vay vốn đồng thời khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng dẫn đến lượng tiền lưu thông giảm, giá trị đồng tiền tăng và lạm phát được kiềm hãm.
Ngược lại, khi lạm phát giảm đến mức tiêu cực, kinh tế trì trệ, Nhà nước sẽ thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ để kích thích sự phát triển. Lúc này, lãi suất giảm để thúc đẩy hoạt động vay vốn của doanh nghiệp và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Qua đó, ta thấy lạm phát và lãi suất có mối quan hệ chặt chẽ.
Lạm phát và lãi suất tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Mối quan hệ này ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động kinh doanh và đầu tư. Nếu không duy trì ở mức ổn định và cân bằng, tác động của lạm phát và lãi suất thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng như siêu lạm phát hoặc giảm phát và suy giảm kinh tế.
Vì vậy, để có một nền kinh tế ổn định và phát triển, hai yếu tố này cần duy trì tỷ lệ tốt nhất. Mỗi người cũng cần ý thức về chi tiêu và dành phần nhất định để tiết kiệm và sinh lời.
Ảnh: internet
















