Với tình trạng hàng tồn kho bị dư thừa quá nhiều sau đại dịch Covid-19, các nhà bán lẻ ở Mỹ đã đưa ra những chính sách quản lý hàng tồn kho chặt chẽ và khoa học hơn với tiêu chí: vẫn nhập hàng mới nhưng chỉ vừa đủ thay vì quá nhiều.
Theo số liệu thống kê từ Cục Điều tra dân số Mỹ, tỷ lệ hàng tồn kho trên doanh số bán hàng tại các nhà bán lẻ ở Mỹ giảm xuống 1,36% vào tháng 11/2023, trong khi mức cao nhất trong thời kỳ đại dịch là 1,5 (số liệu tháng 8/2022), còn ở tháng 11-2019 là 1,33% (tổng hợp, theo dõi số lượng hàng tồn kho so với số hàng họ đã bán). Ngoài ra, một cuộc khảo sát hàng tháng đối với các nhà quản lý chuỗi cung ứng ở Mỹ cũng cho thấy, mức tồn kho trong tháng 12 đã giảm lần thứ bảy trong tám tháng.
Thay vì tích trữ hàng hóa thật nhiều để phòng trường hợp bị gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa, đặc biệt là vào thời điểm nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh dịp cuối năm, các nhà bán lẻ ở Mỹ chỉ tập trung vào việc giải quyết các mặt hàng còn tồn đọng và tiến hành nhập thêm một số mặt hàng cần thiết để đáp ứng vừa đủ nhu cầu. Sự thay đổi này đã đưa thị trường bán lẻ ở Mỹ quay về chiến lược quản lý hàng tồn kho “đúng lúc” (just in time) được nhiều công ty áp dụng trước khi đại dịch ập đến làm đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa.
Chúng tôi hiện chỉ nhập lượng hàng cần thiết để trước hết là phục vụ kế hoạch bán hàng, sau nữa là nắm bắt chuỗi cung ứng trong phạm vi 180 ngày để có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm lượng hàng phù hợp dựa trên những tín hiệu nhu cầu” mà chúng tôi nhận được từ thị trường.” – Jamie Bragg, giám đốc chuỗi cung ứng thời trang nam Tailored Brands (Texas) chia sẻ.
Lượng hàng tồn kho quá lớn điều đó có nghĩa là sẽ mất nhiều chi phí hơn để lưu trữ, từ chi phí lưu kho đến nhân lực để quản lý. Đó là chưa kể hàng hóa sẽ rất nhanh bị lỗi thời vì xu hướng của người tiêu dùng luôn thay đổi liên tục.
Theo nhận định của Giáo sư Terry Esper thuộc Đại học bang Ohio, ở thời điểm hiện tại các công ty dường như có khả năng dự đoán nhu cầu của người tiêu dùng tốt hơn nhiều so với trước đây. Ngoài ra họ cũng có thể dự trữ hàng tồn kho ít hơn trong bối cảnh tăng trưởng chi tiêu ở mức vừa phải và ít gián đoạn chuỗi cung ứng. Sở dĩ có sự thay đổi này là vì các nhà bán lẻ tin tưởng hơn vào chuỗi cung ứng tổng thể, mạng lưới hậu cần cũng như môi trường kinh doanh. Họ cho rằng đây là thời điểm an toàn để quay trở lại chiến lược tồn kho “đúng lúc”.
Với chiến lược mới, không thể phủ nhận rất nhiều chuỗi cửa hàng bán lẻ ở Mỹ đã có sự thay đổi tích cực. Chẳng hạn, chuỗi cửa hàng Walmart đã giảm lượng hàng tồn kho 4,8% tại thị trường Mỹ (tại thời điểm 27-10) so với cùng kỳ năm ngoái trong khi doanh số bán hàng tại cùng cửa hàng tăng 4,9%. Còn với Walmart, thay vì nhập hàng một cách ồ ạt, doanh nghiệp này đã triển khai các công nghệ nhằm tìm hiểu nhu cầu thực tế của người tiêu dùng ở hiện tại và tương lai, khắc phục hạn chế của các công cụ dự báo sai sót trong đại dịch.













